Tài trợ bởi vatgia.com
HIỆU QUẢ CỦA TAURINE TRÊN CÁC BỆNH VỀ MẮT
Thứ sáu, 11:16 Ngày 23/09/2016 .

Hướng dẫn phương pháp của Bộ Y Tế Liên Xô năm 1986, sử dụng Taurine (Taufon là tên biệt dược với hoạt chất taurine) trong Nhãn khoa để điều trị các bệnh về mắt khác nhau.

Taufon (Taurin) ở mức chuẩn chứa trong tất cả tế bào của cơ thể, đặc biệt nhiều trong các tế bào mắt và cơ tim. Khi đói Taurin sẽ phát triển quá trình loạn dưỡng nặng trong võng mạc mắt, và Taurin ngoại sinh thấm tốt thông qua hàng rào máu mắt và tích tụ phần lớn trong võng mạc. Vì vậy, thuốc lần đầu tiên được dùng trong các bệnh loạn dưỡng di truyền võng mạc, sau đó đã chỉ rõ việc sử dụng thuốc mở rộng hơn. Trong hướng dẫn phương pháp này mô tả các phương pháp dùng Taufon trong các bệnh loạn dưỡng võng mạc và giác mạc, điều trị dự phòng bệnh đục nhãn mắt do chấn thương, do tuổi già và do nhiễm xạ, trong phẩu thuật các tuyến, bệnh đục nhãn mắt. Ngoài các bệnh được mô tả trong hướng dẫn, đã bắt đầu thử nghiệm lâm sàng Taufon trong cận thị nặng, loạn dưỡng võng mạc do tuổi già v.v… Đã thu được các kết quả đáng tin cậy. Taufon có tính chịu thuốc tốt và thực tế không có chống chỉ định khi dùng thuốc. Phạm vi rộng của các bệnh, trong đó thuốc có thể sử dụng tốt cho phép đưa nhanh thuốc vào công tác thực hành của các phòng khám nhãn khoa, các bệnh viện mắt, các khoa mắt của bệnh viện đa khoa, các viện nghiên cứu về bệnh mắt.

LỜI NÓI ĐẦU

Trong năm 1974, các cán bộ của Viện lý sinh Bộ Y tế Liên Xô E. I. Yarsev và Iu. A. Kolesnicov để điều trị bệnh đục nhãn mắt và vô dưỡng sắc tố võng mạc đã được khuyến cáo dung thuốc “Taufon”. Cơ sở hoạt tính sinh học của Taufon là taurin ở dạng dung dịch 4% (2-aminoetansulfonic acid). Taurin là một trong những sản phẩm cuối cùng của trao đổi các hợp chất chứa lưu huỳnh (xistein, metionin, glutationin); trong mức chuẩn chứa trong tất cả các tế bào của cơ thể, nhưng nhiều nhất tích tụ trong tế bào mắt và cơ tim. Trong màng võng mạc và các tế bào khác, Taurin có lượng nhiều hơn so với bất kỳ amiacid khác. Đã xác định được rằng khi đói Taurin có thể phát triển bệnh loạn dưỡng võng mạc nặng. Khi dùng Taurin-C đã cho thấy Taurin ngoại sinh tập trung phần lớn ở võng mạc.

NỘI DUNG HƯỚNG DẪN

Bằng thực nghiệm đã chứng minh cơ chế tác dụng của Taufon lên sự tham gia của thuốc trong điều chỉnh các quá trình trao đổi chất. Trong đó đã ghi nhận 3 hướng tác động của taufon lên các tế bào bị tổn thương. Đưa vào Taufon ngoại sinh bằng đường tiêm hoặc nhỏ giọt khắc phục được suy giảm Taurin trong tế bào mắt- đó là “liệu pháp thay thế”. Thuốc quân bình trao đổi các chất điện giải, đạm, đường và hoocmon và điều hòa thẩm thấu tế bào nhờ tác động lên màng tế bào, dẫn đến kích thích các quá trình phục hồi trong tế bào mắt khi bị bệnh mang tính loạn dưỡng. Và cuối cùng, khả năng tham gia của Taurin ngoại sinh giống Taurin tự nhiên trong các quá trình hóa thần kinh và sinh lý thần kinh. Thuốc được sản xuất ở dạng dung dịch 4% trong ống tiêm 1 ml và trong lọ 5 ml. Gần như 10 năm thử nghiệm lâm sang thuốc tại Viện nghiên cứu các bệnh mắt Moscow mang tên Gelmgols cho phép khuyến cáo sử dụng thuốc để dự phòng và điều trị các dạng khác nhau về vô dưỡng sắc tố võng mạc, loạn dưỡng giác mạc đục nhãn mắt do tuổi già và nhiễm xạ, các biến đổi loạn dưỡng võng mạc, trong cận thị nặng, loạn dưỡng võng mạc do tuổi tác, v.v… Sử dụng Taufon dạng tiêm và nhỏ giọt có thể thực hiện trong tất cả bệnh viện đa khoa và các cơ sở điều trị nội trú, nơi có bác sỹ nhãn khoa. Điện từ và âm từ bằng Taufon chỉ được sử dụng tại các cơ sở y tế được trang bị tại các khoa vật lý trị liệu và phòng siêu âm. Sử dụng Taufon để điều trị vô dưỡng sắc tố võng mạc. Theo số liệu thống kê của thế giới, tỷ lệ bị bệnh võng mạc bẩm sinh cao hơn 0,5% trong số dân được chọn. Vị trí cơ bản trong bệnh võng mạc bẩm sinh là các dạng vô dưỡng sắc tố loại ngoại biên và trung tâm. Các phương pháp đã áp dụng trước đây để điều trị vô dưỡng sắc tố võng mạc (các thuốc vazodiliator, kháng đông, liệu pháp tế bào, vitamin, phẫu thuật rạch và v.v…) không cho hiệu quả kéo dài đáng kể. Đương nhiên cần phải tìm tất cả các loại thuốc mới có khả năng hạn chế giảm chức năng thị giác ở bệnh nhân bị các bệnh này, dẫn đến mù lòa khi ngay trong độ tuổi lao động. Một trong những thuốc đó là Taufon. Các kết quả sơ bộ nhận được khi tiêm Taufon dưới kết mạc cho bệnh nhân với nhiều hình thái loạn dưỡng võng mạc khác nhau cho thấy Taufon tăng cường thêm cho người bệnh thị giác trung tâm, trên thực tế không ảnh hưởng lên trường nhãn quan. Vì thế, dung Taufon có lợi cho bệnh nhân bị bệnh vô dưỡng sắc tố võng mạc trung tâm và ở bệnh nhân bị vô dưỡng sắc tố dạng ngoại biên-trung tâm của võng mạc, nơi sẽ giảm thị giác trung tâm.

Phương pháp dùng: Thuốc được tiêm dưới kết mạc của mỗi mắt, liều 0,3-0,5 ml dung dịch nước 4% 1 lần/ngày trong vòng 10-15 ngày hoặc cận hành thủy tinh thể liều 0,5 ml/lần/ngày trong vòng 10 ngày. Sau đợt điều trị ở bệnh nhân bị rối loạn thị giác trung tâm đã quan sát thấy tăng độ sắc thị giác lên 0,04-0,2, giảm ám điểm trung tâm trong trường giác quan. Sự cải thiện chủ quan biểu hiện ở việc giảm loạn ánh sáng, xuất hiện ở một số bệnh nhân khả năng đọc với sự điều chỉnh hoặc bằng kính lupe. Hiệu quả đạt được sau đợt điều trị, thường được giữa trong vòng 6-8 tháng, sau đó chức năng nhìn bắt đầu giảm và cần thực hiện điều trị lặp lại. Đợt điều trị lặp lại được thực hiện 2 lần trong năm, cho phép ổn định chức năng nhìn hoặc hạn chế giảm thị giác trong nhiều năm khoảng ở 40% số bệnh nhân ở mức ban đầu, trong khi đó nếu không điều trị thị giác ở các bệnh nhân bị loạn dưỡng trung tâm võng mạc giảm xuống đáng kể và kết cục không quá 0,01-0,02/ Liệu pháp từ bằng Taufon. Cơ sở để dung từ giả của Taufon trong bệnh vô dưỡng sắc tố giác mạc là dựa trên từ trường thay đổi cải thiện vi tuần hoàn và tăng cường độ thẩm thấu của rào cản máu mắt và màng tế bào, thúc đẩy cải thiện tốt hơn sự thẩm thấu của thuốc trong mắt, tăng cường tác dụng trị liệu của thuốc trong suốt quá trình bệnh lý.

Phương pháp: Điều trị được thực hiện với sự hổ trợ của máy sản xuất trong nước từ trị liệu tần số thấp “Polus- 1” trong trạng thái đầu khi văn chuyển thay đổi cường độ phù hợp với trị giá biên độ sinh từ gần 10,0 mTl. Phương pháp tiếp xúc- máy sinh từ với tâm trực tiếp được đặt trực tiếp trên mí mắt khép không có lỗ không khí. Dùng từ trường biến đổi 50 chu kỳ hình sin, chế độ liên tục. Trước khi bắt đầu liệu pháp, nhỏ dung dịch Taufon 4% dưới túi kết mạc hoặc trên mí đặt tấm gạc tẩm thuốc. Có thể tiêm dung dịch Taufon 4% dưới kết mạc của màng mắt liều 0,3 ml. Lần thực hiện khoảng 7-8 phút. Thực hiện liệu pháp hàng ngày, trong vòng 10-15 ngày. Sau đợt điều trị quan sát thấy tăng thị giác từ 0,03 đến 0,2-0,3, giảm ám điểm trung tâm và cận trung tâm. Cải thiện chủ quan biểu hiện ở việc giảm mỏi mắt khi đọc, định hướng tốt hơn trong phòng và trên phố, giảm loạn ánh sáng. Cải thiện tối đa chức năng nhìn bắt đầu sau 1,5 -2 tháng sau khi kết thúc đợt điều trị. Hiệu quả trung bình từ liệu pháp đã thực hiện bảo tồn trong 5-9 tháng, tiếp theo chức năng bắt đầu giảm, tuy nhiên có thể giữ ở mức cao hơn so với trước khi điều trị bằng liệu pháp từ có Taufon.  Đợt điều trị lặp lại sau 7-10 tháng cho phép ổn định các quá trình loạn dưỡng trong giai đoạn phát triển I và II. Trong các thời kỳ đã đi qua lâu, bệnh có thể dẫn đến giảm chức năng nhìn kể cả khi điều trị. Kết quả tốt nhất của điều trị cho thấy khi thực hiện liệu pháp từ sau khi tiêm Taufon dưới kết mạc. Liệu pháp siêu âm của Taufon. Bên cạnh các phương pháp mô tả ở trên, đưa thuốc Taufon vào có thể sử dụng phương pháp siêu âm như khi chiếu xạ mắt bằng liều thích ứng song siêu âm làm tăng thẩm thấu giác mạc và tăng cường xâm nhập thuốc vào trong mắt.

Phương pháp Siêu âm: dung dịch  4% taufon với sự hỗ trợ của thiết bị trị liệu siêu âm “Ultri-zvuc-5” và UZT-104. Cả hai thiết bị này hoạt động trên tần số 880 kTs, đảm bảo khả năng tác động bằng sóng siêu âm lên tế bào phần sau của mắt. Bộ phận truyền âm với diện tích đầu xạ 1,0 cm2 được đặt sâu vào vị trí mắt mở bằng dụng cụ căng mắt, cho đầy dung dịch Taufon 4% để làm môi trường kết nối giữa máy xạ và mắt khi điều trị. Sử dụng cường độ xạ siêu âm 0,3-0,4 vt/ cm2 ở chế độ liên tục. Trị liệu thực hiện hàng ngày trong 10 ngày. Thời gian cho một lần trị liệu 5 phút. Sau đợt điều trị ở bệnh nhân bị vô dưỡng sắc tố võng mạc dạng trung tâm và trng tâm-ngoại biên, cũng như ở bệnh nhân với loạn dưỡng trung tâm mang tính thứ cấp (trên nền bệnh lý mạch) đã ghi nhận sự cải thiện thị giác từ 0,03 đến 0,3-0,4. Hiệu quả điều trị bằng siêu âm của Taufon gấp 1,5 lần so với liệu pháp siêu âm không dùng Taufon ở các bệnh nhân này. Sử dụng Taufon trong điều trị các bệnh giác mạc. Tại Viện của chúng tôi đã sang chế ra phương pháp dùng Taufon để điều trị loạn dưỡng di truyền và bẩm sinh giác mạc (dạng lưới, vết, biểu mô, hình giả lụa, phần đệm) và trong liệu pháp tổng hợp hecpet nhãn khoa. Phương pháp khi loạn dưỡng giác mạc. Dung dịch Taufon 4% dạng tiêm dưới kết mạc liều 0,3-0,5 ml vào mỗi mắt hàng ngày. Đợt điều trị 10-15 lần tiêm và lặp lại sau 2-4 tháng trong năm phụ thuộc vào hình ảnh lâm sang và giai đoạn của bệnh. Tiêm kết hợp vơi nhỏ giọt dung dịch Taufon 4% 2-3 lần/ngày. Trong loạn dưỡng hình lưới ở giai đoạn đầu của bệnh đã ghi nhận sự ổn định thị giác (0,7-1,0), cũng như mất các tiến triển biến đổi lâm sàng trong giác mạc. Ở giai đoạn phát triển, không kèm sước giác mạc tái phát, sau đợt điều trị đã ghi nhận tăng thị giác lên 0,1-0,4. Ở các bệnh nhân với loạn dưỡng dạng lưới giác mạc kèm theo sước tái phát, điều trị cần thực hiện với cường độ cao hơn: tiêm dung dịch Taufon 4% dưới kết mạc 1 lần/ngày kết hợp nhỏ Taufon 2 giờ /lần. Trong vòng ngày đầu quan sát thấy xu hướng tạo biểu mô chỗ sước giác mạc và phụ thuộc vào đại lượng của chúng, nhưng đã rút ngắn 2 lần so với thời gian tái sinh trong các phương pháp truyền thống (nhỏ vitamin, bôi kem tiamin, điện ly với các thuốc kích thích sinh học…). Ở những bệnh nhân được dùng định kỳ thuốc taufon trong điều trị, ít xuất hiện”biến chứng” bệnh ở dạng xuất hiện ngẫu nhiên sước biểu mô giác mạc. Trong các giai đoạn đã qua lâu bệnh loạn dưỡng dạng lưới giác mạc, điều trị bằng Taufon không cho tác dụng điều trị mong muốn. Trong các trường hợp này cần tiến hành can thiệp bằng phẫu thuật (ghép giác mạc), và thời kỳ sau phẩu thuật với mục tiêu kích thích các quá trình tái tạo cần sử dụng Taufon dung dịch 4% dạng nhỏ giọt. Khi miếng ghép sống lại trong suốt có thể chỉ định cho bệnh nhân các đợt điều trị nói trên để giữ hiệu quả phẩu thuật đạt được. Ở những bệnh nhân với loạn dưỡng biểu mô giác mạc khi tiến hành điều trị thường xuyên bằng Taufon, tình trạng giác mạc được cải thiện: giảm số “các các cấu trúc hình thành dạng nốt sần” trong biểu mô mà hậu quả của nó là giảm đáng kể loạn ánh sang. Nếu không quan sát thấy biến dạng đi kèm trong chất đệm, thị giác thường được tăng lên đến 0,9-1,0/ Trong loạn dưỡng nội môi giác mạc điều trị bằng Taufon không kèm theo thay đổi hình ảnh lâm sàng, nhưng thị giác được giữ vững. Trong loạn dưỡng dạng giải lụa giác mạc, điều trị bằng Taufon cần được thực hiện như là liệu pháp bổ sung (kích thích quá trình tái tạo trong giác mạc) sau đợt điều trị loạn dưỡng dạng giải giác mạc. Điều trị được thực hiện dẫn đến ổn định thị giác. Trong khoảng giữa các đợt điều trị bên cạnh việc nhỏ Taufon cần tiến hành điều trị tổng hợp loạn dưỡng giác mạc với việc chỉ định các thuốc kháng oxy hóa, các thuốc kích thích sinh học, các vitamin, các thuốc giãn mạch và các thuốc củng cố chung.

Phương pháp điều trị trong hecpet nhãn khoa: Ở thời kỳ cấp của bệnh, chỉ định nhỏ dung dịch Taufon 4% đến 4 lần/ngày kết hợp với các thuốc kháng virus. Trong viêm giác mạc sau hecpet khi giác mạc bị mỏng và uy hiếp phát triển viêm dây và sau ghép giác mạc nhỏ Taufon 4% 2-8 lần/ngày đến khi khôi phục sức khỏe lâm sàng. Hiệu quả hơn khi nhỏ Taufon 4% lâu dài khi chưa khắc phục sớt dưỡng sinh tái phát giác mạc sau hecpet mà các phương pháp khác khó có tác dụng và tiếp tục liệu pháp kháng virus ở các bệnh nhân này thường dẫn đến tình trạng tồi hơn của mắt. Trong loét hecpet giác mạc kèm uy hiếp phát triển viêm day cần dùng liệu pháp tổng hợp: Taufon kết hợp với một trong những thuốc kháng virus ( với interferon bạch cầu đậm, pirogenad, iodksulridin)- loét được thay thế bới các tế bào nối kết và bắt đầu khôi phục sức khỏe. Sau ghép giác mạc chỉ định nhỏ taufon sẽ thúc đẩy nhanh quá trình hồi sinh của miếng ghép, ít biểu hiện và nhanh biến mất phù của miếng ghép. Taufon như là thuốc thay ẩm khoang trước của mắt trong phẫu thuật tuyến nhãn cầu. Chấn thương cơ quan thị giác và các kết cục của chúng chiếm một trong những vị trí hàng đầu trong số các nguyên nhân giảm thị giác và mù lòa. Khi các tuyến hình cầu võng mạc và các vết thương xuyên vào giác mạc với tổn thương thủy tinh thể cần tiến hành rửa nhiều lần bằng một lượng lớn dịch còn lại của khối thủy tinh thể, liên quan đến vấn đề này về tác dụng của dịch này lên tế bào mắt là rất quan trọng. Để khôi phục khoang trước của mắt có rất nhiều chất thay thế, cũng như không khí, các dung dịch sinh lý dung dịch muối cân bằng, dung dịch Ringer, dung dịch sinh lý heparin hóa 0,1%, dung dịch hyaluronic acid, v.v… Chúng tôi lần đầu tiên đưa ra chất thay thế ẩm khoang trước của mắt bằng dung dịch Taufon 0,05%, ảnh hưởng thuận lợi hơn lên các quá trình tái sinh khi tổn thương lớp sau của giác mạc với việc hình thành sẹo mỏng, giống với cấu trúc của mô giác mạc.

Phương pháp: Để thu được dung dịch 0,05% Taufon lấy o,8 ml dung dịch Taufon 4% hòa trong 100 ml dung dịch sinh lý vô trùng. Dung dịch thu được sử dụng để rửa khối thủy tinh thể và như là thuốc thay thế ẩm khoang trước của mắt khi phẩu thuật các tuyến dịch võng mạc. Thời kỳ sau phẫu thuật thực tế không bị phù chất đệm giác mạc trong các vết thương không biến chứng. Hiện tượng phù khi vết thương biến chứng và khi thích nghi kém các mép ngoài của vết thương giác mạc mất đi hoàn toàn sau 3-5 ngày. Không có tiết dịch dạng mây trong khoang trước của mắt. Quan sát thấy có hình thành sẹo mỏng mềm của màng giác mạc. Khi có hiện diện máu trong khoang trước của mắt, sự tan máu chỉ sẽ xẩy ra trong ngày thứ 5-6. Việc đó có thể giải thích bằng chức năng điều hòa thẩm thấu và khả năng của Taufon bình thường hóa thẩm thấu của hàng rào máu mắt, trao đổi năng lượng và trao đổi chất đường, đạm trong tế bào. Sử dụng Taufon để điều trị và dự phòng bênh võng mạc do tuổi già và chấn thương võng mạc. Phương pháp: dung dịch Taufon 4% nhỏ vào túi kết mạc 3 lần/ngày trong vòng 3 tháng, sau đó ngừng 1 tháng, sau khi ngừng tiếp tục nhỏ thuốc trong vòng 3 tháng và tiếp theo như vậy. Trong điều trị bệnh võng mạc do tuổi già và chấn thương đã đạt được việc ngừng các quá trình hầu như ở tất cả bệnh nhân. Ở 20% số bệnh nhân đã đạt được tăng trưởng thị giác. Thị giác khi dung Taufon thường tăng 5 lần so với dung các loại vitamin để nhỏ. Ở những bệnh nhân bệnh võng mạc sau hình chén dung Taufon không thể chấm dứt phát triển viêm võng mạc, nhưng quan sát thấy có tiến triển tốt. Sử dụng Taufon để dự phòng và điều trị nhiễm xạ võng mạc. Liệu pháp tổng hợp blaxtom võng mạc hai phía ở trẻ em bao gồm thủ thuật khoét mắt tồi nhất, liệu pháp rơngen mắt tốt hơn, chiếu xạ quỹ đạo mắt bị khoét và hoá trị liệu. Việc thực hiện liệu pháp rơngen trên máy sản xuất tring nước RUM-17 cho phép xạ mắt từ lỗ mắt ở cả hai trường: trước và thái dương. Chiếu xạ từ trường thái dương có ưu việt hơn là phần cắt trước của mắt. Tuy nhiên theo tình trạng đa thái dương ở trẻ em từ trường thái dương có thể chịu được 2/3 liều xạ cần thiết ( liều hấp thụ cho cả đợt điều trị là gần 2,6 G-r). Trong mối liên quan với nó tránh sự phát triển viêm võng mạc do chiếu xạ không thể thực hiện được. Vơi mục đích làm chậm phát triển viêm võng mạc xạ trị có thể dùng dung dịch Taufon 4%.

Phương pháp: Trước khi chiếu xạ nhỏ dung dịch Taufon 4% vào hố kết mạc 6 lần cách nhau 15 phút, sau đó hàng ngày kéo dài trong cả đợt xạ trị (15-20 ngày) cần nhỏ tiếp Taufon 2 giọt x 6 lần/ngày. Kết quả thực hiện điều trị dự phòng đã đạt được kiềm chế xuất hiện viêm kết mạc do nhiễm xạ trong 2-4 năm sau khi kết thúc chiếu xạ, và khi đó nhỏ 6 lần dung dịch xistein 2% đã dùng trước đây, viêm võng mạc do nhiễm xạ phát triển sau 1-1,5 năm.

KẾT LUẬN

Như vậy, dùng Taufon dung dịch 4% để điều trị vô dưỡng sắc tố, loạn dưỡng võng mạc căn nguyên mạch, để dự phòng và điều trị viêm võng mạc do tuổi già, chấn thương và nhiễm xạ cho kết quả tốt, làm tăng thị giác và làm chậm tiến triển quá trình loạn dưỡng và phát triển bệnh võng mạc. Với thành công, Taufon có thể dùng để điều trị loạn dưỡng giác mạc di truyền và bẩm sinh và trong liệu pháp tổng hợp điều trị hecpet nhãn khoa. Dung dịch Taufon 0,05% có thể dùng thay thế ẩm của khoang mắt trước trong phẫu thuật các tuyến dịch võng mạc. Thuốc thích ứng tốt, không có chống chỉ định, không gây biến chứng và có thể sử dụng để điều trị trong điều kiện ngoại trú, không tách khỏi sản xuất cho phần lớn bệnh nhân với các quá trình loạn dưỡng võng mạc và giác mạc. Sử dụng Taufon trong phẫu thuật tuyến dịch võng mạc sau chấn thương cơ quan thị giác cho phép rút ngắn ngày nằm điều trị tại các cơ sở nhãn khoa nội trú, cho nên giảm được thời gian hồi sinh vết thương giác mạc và tan máu trong khoang trước.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

TOP
HỖ TRỢ khách hàng«
  • Kinh doanh