Tài trợ bởi vatgia.com
TỔNG QUAN VỀ TAURINE
Thứ ba, 15:05 Ngày 10/05/2016 .

I. Giới thiệu chung về Taurine:

- Tên hóa học: Taurine

- Công thức hóa học: C2H7NO3S

- Khối lượng phân tử: 125.14 g/mol

- Điểm nóng chảy: 305.0oC

- Tỷ khối: 1.734 g/cm3( taïi -173.15oC)

- Mã nhận dạng (CAS number): 107-35-7

- Công thức đơn giản: NCCS(=O)(O)=O

- Taurine được chiết xuất lần đầu tiên từ mật bò năm 1827, và tên Taurine xuất phát từ tiếng Latin (Taurus = bò).

- Taurine (2-aminoethanesulfonic acid) một trong những acid amin ít được biết đến, đóng một số vai trò quan trọng trong cơ thể và thiết yếu đối với trẻ sơ sinh. Taurine thuộc nhóm các acid amin có gốc sulfur (lưu huỳnh) cùng với methionine, cystine và cysteine. Phân tử Taurine (H2N-CH2-CH2-SO2H) nhỏ.

- Phần lớn các acid amin có cầu hình phân tử dạng L- hoặc D-, có nghĩa là phân tử acid amin này trong dung dịch sẽ làm ánh sáng quay sang trái (Levo=L) hoặc sang bên phải (Dextro=D). Taurine, giống như Glycine không làm phân cực ánh sáng và do đó, không có cấu hình theo dạng L- hay D-.

- Trong cơ thể Taurine nằm ở dạng phân tử tự do và không bao giờ liên kết với các protein trong cơ. Phân tử Taurine tan trong nước vì thế khó thâm nhập vào hầu hết các màng tế bào nhiều chất béo của cơ thể nhưng nó lại có mặt trong tất cả các màng này.

- Taurine tập trung nhiều ở não, võng mạc, cơ tim, cơ xương và cơ trơn, thận, tiểu huyết cầu và bạch cầu. Taurine được coi là acid amine thiết yếu có điều kiện vì nó cần thiết bổ sung vào các bữa ăn cho trẻ sơ sinh giúp não và mắt phát triển bình thường. Taurine được bổ sung vào hầu hết các công thức cho trẻ sơ sinh từ những năm 1980.

II. Nguồn gốc:

- Taurin có hàm lượng cao trong thịt, cá và sữa mẹ, còn hàm lượng thấp trong rau, quả và các loại hạt.

- Cơ thể có thể tổng hợp được Taurin tại gan từ axit amin Methionin và Cystein
- Ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sinh non, nhẹ cân, cần thiết bổ sung Taurin vì hệ men gan chưa hoàn thiện nên khả năng tự tổng hợp Taurin của cơ thể bị giới hạn. 
- Taurin cần được bổ sung vào sữa công thức cho trẻ nhỏ với hàm lượng tương đương như trong sữa mẹ.

 IIIVai trò của taurine:

- Trong một thời gian dài, Taurine được coi là chất dinh dưỡng không thiết yếu đối với con người. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Taurine đã ngày càng được làm rõ là một acid amin rất quan trọng trong nhiều quá trình chuyển hóa của cơ thể và trong một số tình huống nó là chất dinh dưỡng thiết yếu.

- Taurine đóng vai trò quan trọng trong các chức năng của thị giác, não và hệ thần kinh, chức năng của tim, và nó là chất liên kết của các acid mật. Về cơ bản, Taurine giúp quá trình chuyển các ion Natri, Kali, và có thể thêm Canxi, magie vào và ra khỏi tế bào và để ổn định điện tích màng tế bào.

- Taurine cần để quá trình hấp thu và hòa tan mỡ được hiệu quả. Nhiều nghiên cứu còn cho thấy Taurine có vai trò quan trọng trong phát triển thận và cải thiện nhiều tình trạng bệnh thận, bệnh tiểu đường... Taurine còn cho thấy có tác dụng bảo vệ với chứng viêm ruột. Các nghiên cứu về tác dụng Taurine ngày càng nhiều.

- Một chức năng quan trọng nữa của Taurine là khử độc, kháng ôxy hóa.

+ Vì taurine có khả năng trung hòa acid hypochlorous, một chất oxi hóa mạnh, nên taurine có thể làm giảm bớt sự tổn hại DNA mà nguyên nhân do những hợp chất thơm gây ra. Do cấu trúc đặc thù của taurine, có chứa acid sulfonic hay nói đúng hơn là acid carboxylic, nó không có dạng aldehyde từ acid hypochlorous, nên có thể thay đổi cấu trúc tạo thành hợp chất chloroamine tương đối ổn định. Do đó, taurine là một chất chống oxi hóa trung gian của ion chloride và acid hypochlorous và bảo vệ cơ thể khỏi những độc tố của aldehyde.

+ Taurine cũng gián tiếp bảo vệ chống lại tetrachloride carbon (chất có độc tính cao).   

+ Một phát hiện mới đã được công bố là: Retinol (Vitamine A) khi vượt quá mức giới hạn cho phép có thể hoạt động như một chất độc ảnh hưởng đến các tế bào lymphoid. Khi thêm kẽm vào cũng chỉ cải thiện được một phần nhỏ không đáng kể, nhưng khi thêm taurine vào sẽ bảo vệ tế bào tốt hơn. Nếu như kết hợp bổ sung cả kẽm và taurine vào thì sẽ làm tăng khả năng bảo vệ tế bào hơn nữa.

+ Một tài liệu khác cũng đã chứng minh rằng taurine có thể giảm khả năng gây độc của kim loại đồng.

IVSự tương tác của taurine:

- Cũng giống như những chất dinh dưỡng khác, taurine có thể làm tăng hay giảm tác dụng của những chất dinh dưỡng khác.Monosodium Glutamate (MSG) là muối natri của acid glutamic. Việc bổ sung acid glutamic đã được định sẵn, nhưng khi nó kết hợp với cồn sẽ làm giảm lượng taurine. Bản thân MSG cũng làm giảm hoạt tính của taurine.

- Những amino acid như beta-alanin và beta hypotaurine cũng như vitamine B, acid pantothenic làm giảm các chức năng của taurine.

- Sự tham gia của kẽm làm tăng tác dụng của taurine. Việc thiếu kẽm cùng với vitamine A sẽ làm tăng sự bài tiết của taurine trong nước tiểu và làm suy yếu chức năng của taurine trong mô.

 V. Qúa trình sinh tổng hợp taurine:

- Cystein và vitamine B6 là hai thành phần quan trọng nhất để tổng hợp nên taurine trong cơ thể con người và một số loài động vật khác có khả năng tồng hợp được taurine.

- Taurine, được bài tiết nhiều nhất trong quá trình trao đổi chất sau sulfate, được tạo thành chủ yếu từ amino acid cystein. Pyridoxal phosphate (active vitamine B6) là chất cần thiết cho quá trinh tổng hợp taurine. Sự tạo thành taurine sẽ giảm khi thiếu hụt vitamine B6, do đó việc bổ sung đầy đủ vitamine B6 là cần thiết cho quá trình sản xuất taurine. Một số taurine có thể được tổng hợp trực tiếp từ sulfate.

- Taurine được bài tiết ra trong vòng 2 ngày. Nó sẽ được bài tiết ra qua nước tiểu khi mức độ taurine trong cơ thể đã đầy đủ. Taurine cũng được bài tiết ra trong mật, nó giữ lại các acid mật hòa tan giúp ngăn chặn sự tạo thành sỏi mật.

Qúa trình sinh tổng hợp taurine

 

VI. Quá trình trao đổi chất của taurine:

Sự trao đổi của taurine trong hai loài vi khuẩn màu tía không chứa lưu huỳnh đã được nghiên cứu. Rhodopseudomonas palustris (strain Tau1) sử dụng taurine như một chất cho điện tử, nguồn cung cấp lưu huỳnh và nitơtrong suốt quá trình phát triển. Rhodobacter sphaeroides (strain Tau3) sử dụng taurine như một chất cho điện tử, nguồn cung cấp lưu huỳnh và nitơ, một phần nguồn carbon, cùng với sự có mặt của CO2 trong suốt quá trình quang tự dưỡng. Cả hai loài vi sinh vật đều sử dụng enzym taurine–pyruvateaminotransferase and a sulfoacetaldehyde acetyltransferase. Sản phầm của quá trình trao đổi chất là bisulfite và acetyl phosphate. Bisulfite sau đó cũng bị oxi hóa thành sulfate, nhưng đây không phải là nguồn cung cấp đầy đủ điện tử cho quá trình trao đổi chất. Những cuộc thử nghiệm sử dụng [U-14C] taurine hoặc 14CO2 cho thấy rằng Rhodobacter sphaeroides Tau3 đã sừ dụng một lượng lớn carbon từ taurine và sinh ra CO2. Việc sử dụng carbon của taurinekhông bị giảm đi khi lượng bicarbonate không phóng xạ vượt quá mức giới hạn. Malate synthase (nhưng không có isocitrate lyase) sẽ bị vô hoạt trong những tế bào taurine-grown. Carbon taurine được sử dụng trong suốt một quá trình trung gian trừ CO2. Làm những thí nghiệm tương tự với Rhodopseudomonas palustris Tau1 đã xác định rằng taurine chỉ được dùng như một chất cho điện tử để làm giảm lượng CO2. Sự trao đồi chất của sinh vật tự dưỡng quang năng được diễn ra bên trong cơ thề khi không có mặt Malate synthase hoặc Isocitrate lyase trong những tế bào taurine+CO2 – grown.

Qúa trình trao đổi chất của taurine

TOP
HỖ TRỢ khách hàng«
  • Kinh doanh